Ospf Là Gì

Giới thiệuGiao thức định tuyến OSPF là giao thức định tuyến động thuộc nhóm Link State. Trên mỗi Router đều có bản đồ mạng của cả vùng (bảng định tuyến) thông qua việc đồng nhất bảng cơ sở dữ liệu trạng thái đường link (LSDP - Link State Database). Từ bản đồ mạng này Router sẽ tự tính toán ra đường đi ngắn nhất và xây dựng bảng định tuyến cho nó.

Bạn đang xem: Ospf là gì

Giao thức OSPF được sử dụng rộng rãi trong các công ty cho hệ thống mạng lớn.- OSPF (Open shortest path first) là chuẩn mở do IEEE đưa raHoạt động ở nhóm classlessAD = 110Metric phụ thuộc vào BandwithSử dụng thuật toán Dijkstra để tìm đường đi ngắn nhất.1. Router-id trên OSPF- Để chạy OSPF nó phải tạo ra 1 định danh để chạy gọi là Router-id có định dạng A.B.C.D (vd: IPv4:192.168.1.1)để tạo ra Router-id có 2 cáchCách 1: Router tự động tạoCách 2: Do mình cấu hìnhCách 1: Router tự động tạoDựa vào interface nào có địa chỉ IP cao nhất thì nó lấy IP đó làm Router-idVd: Router có f0/0=10.0.0.1 f0/1=172.16.1.1 s0/0/0=192.168.1.1=> Router-id = 192.168.1.1Nếu Router có Loopback tồn tại và cho tham gia định tuyến thì Router-id ưu tiên cho Loopback trướcVd: lookback 0=4.1.1.1 ;lookback1=4.2.2.2; f0/0=172.16.1.1; f0/1=192.168.1.1=> Router-id = 4.2.2.2Cách 2 : Do mình cấu hìnhRouter-id không nhất thiết là phải chọn IP có trên interfaceVd: lookback 0=4.1.1.1 ;lookback1=4.2.2.2; f0/0=172.16.1.1; f0/1=192.168.1.1Ta có thể cấu hình để chọn Router-id = 100.100.100.100. Ip này không thuộc interface nào của router cả.Lệnh cấu hình như sau:Router (config) # router ospf 1Router (config-router) # router-id A.B.C.D2. Thiết lặp quan hệ láng giềng trong OSPF (neighbor )- Khi cả 2 Router đã chạy OSPF thì chúng bắt đầu gửi gói tin Hello để thiết lập neighbor.- Đinh kì của gói tin Hello là 10s/1 lần- OSPF sử dụng địa chỉ multilcast : 224.0.0.5 khác với RIPv2 224.0.0.9- Gói tin hello của OSPF chỉ dùng để định neighbor còn RIPv2 thì gói tin hello của nó có cả bảng định tuyến bên trong.- Để làm neighbor của nhau thì gói tin hello của 2 router phải giống nhau 1 số thông số:· Area_id: Backbone area: Phải có ít nhất 1 vùng. Kí hiệu : 0Non-backbone are: phải kết nối trực tiếp với vùng Backbone area. Kí hiệu: 1-2^52. => sẽ có 1 còn Router đứng giữa 2 vùngBackbone Router: là Router nằm trong vùng backbone area.

Xem thêm: Bằng Đại Học Tiếng Anh Là Gì ✔️Cẩm Nang Tiếng Anh ✔️, Cơ Hội Xin Việc Với Bằng Đại Học

Internal Router: là Router nằm trong vùng non-backbone area.Area Boder Router(ABR): Router nằm giữa ranh giới backbone area và non-backbone area .Autonomous System Boder Router(ASBR): là Router biên giới giữa định tuyến OSPF và 1 giao thức định tuyên khác( nghĩa là nó vừa chạy OSPF vừa chạy RIPv2 chẳng hạn)
*
Để tính cost từ R1--> C1 ta tính ngược lại là Từ C1 --> đi vào fa1/0 R3(+cost=1) --> đi ra Se2/0 R3--> đi vào Se2/0 R2(+cost=64) --> đi ra fa0/0 R2 --> đi vào f0/0 R1(+cost=1).Ở đây Router sẽ chọn đường có cost = 3 . Để có thể loadbalancing trong sơ đồ này ta cần thay đổiBandwith
: việc thay đổi bandwith nào chỉ nhằm mục đích thay đổi giá trị cost nó không ảnh hưởng gì đến traffic của interface
Nổ hũ club online uy tín | link tải 567live app|W88 | ứng dụng qqlive download| tải mmlive apk | b52 club - Game đánh bài online hot nhất VN